GHÉP MỠ TỰ THÂN BẰNG LIỆU PHÁP TẾ BÀO GỐC

GHÉP MỠ TỰ THÂN BẰNG LIỆU PHÁP TẾ BÀO GỐC

I.          PHẪU THUẬT VÙNG NGỰC

1.      Yoshimura 2008 [1]

Phương pháp nghiên cứu:


40 phụ nữ Nhật Bản được tiến hành phẫu thuật ghép mỡ nâng ngực (vì mục đích thẩm mỹ). Một nữa lượng mỡ được sử dụng để phân lập SVF, sau đó trộn với một nữa lượng mỡ còn lại để tiêm vào ngực bệnh nhân. Trong đó có 19/40 bệnh nhân được theo dõi trong hơn 6 tháng, người được theo dõi lâu nhất là 42 tháng. Thể tích mỡ tiêm vào trung bình là 268.1 ml (ngực trái) và 277.3 ml (ngực phải)

Kết quả:

Lượng mỡ tiêm vào được hấp thu dần trong vòng 2 tháng đầu tiên (đặc biệt là tháng thứ nhất) và thể tích dần trở nên ổn định trong thời gian sau đó. Chu vi vú (tính bằng chu vi ngực đo tại núm vú trừ cho chu vi ngực đo tại vùng dưới vú) tăng từ 4-8 cm tại thời điểm 6 tháng (tăng 100-200 ml thể tích mỗi bên vú, tăng 2-3 cup size áo ngực). Kết quả hình ảnh chụp X quang tuyến vú cho thấy ngực vẫn cho kích cỡ và độ mềm mại tự nhiên mà không xảy ra các phản ứng có hại nghiêm trọng.

Cases lâm sàng

Case 1: Một phụ nữ 22 tuổi tiến hành tiêm mỡ được làm giàu SVF (tiêm mỗi bên 290 ml). Sau 24 tháng bệnh nhân vẫn hài lòng với kết quả của mình, chu vi vú tăng thêm 5 cm, vú vẫn giữ được độ mềm và tự nhiên mà không có biến chứng.


(Bên trái): Trước khi phẫu thuật

(Bên phải): Sau khi phẫu thuật 24 tháng

A.    Chụp CT cắt ngang thời điểm trước khi phẫu thuật

B.    Chụp CT cắt ngang thời điểm sau khi phẫu thuật 12 tháng, mô mỡ tăng lên ở cả vùng dưới da và vùng dưới tuyến vú.

C.    Chụp X quang tuyến vú không phát hiện thấy có vôi hóa hoặc dấu hiệu bất thường khác.

Case 2: Một phụ nữ 32 tuổi tiến hành tiêm mỡ được làm giàu SVF (tiêm mỗi bên 280 ml). Sau 12 tháng bệnh nhân vẫn hài lòng với kết quả của mình, chu vi vú tăng từ 9 cm lên 14.5 cm, vú vẫn giữ được độ mềm và tự nhiên mà không có biến chứng


(Bên trên): Trước khi phẫu thuật

(Bên dưới): Sau khi phẫu thuật 12 tháng

A.    Chụp CT cắt ngang thời điểm trước khi phẫu thuật

B.    Chụp MRI (T1) cắt ngang thời điểm 12 tháng sau khi phẫu thuật

C.    Chụp MRI (T2) cắt ngang thời điểm 12 tháng sau khi phẫu thuật. Mô mỡ tăng lên xung quanh và bên dưới tuyến vú

D.    Chụp X quang tuyến vú không phát hiện thấy có vôi hóa hoặc dấu hiệu bất thường khác.

Case 3: Một phụ nữ 30 tuổi tiến hành tiêm mỡ được làm giàu SVF (tiêm mỗi bên 310 ml). Sau 24 tháng bệnh nhân vẫn hài lòng với kết quả của mình, chu vi vú tăng lên 8 cm, vú vẫn giữ được độ mềm và tự nhiên mà không có biến chứng



(Bên trên): Trước khi phẫu thuật

(Bên dưới): Sau khi phẫu thuật 24 tháng

A.    Chụp CT cắt ngang thời điểm trước khi phẫu thuật, chỉ phát hiện một lớp mỡ rất mỏng xung quanh tuyến vú.

B.    Chụp MRI (T1) cắt ngang thời điểm 24 tháng sau khi phẫu thuật. Mô mỡ vẫn tồn tại và tạo thành một lớp mỡ dày ở xung quanh và bên dưới tuyến vú.

C.    Chụp X quang tuyến vú không phát hiện thấy có vôi hóa hoặc dấu hiệu bất thường khác.

2.      Kamakura 2011 [2]

Phương pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu tiến cứu thực tế lâm sàng trên 20 phụ nữ Nhật Bản tiến hành ghép mỡ tự thân được làm giàu ADRCs bằng hệ thống Celution 800 CRS. Bệnh nhân được theo dõi, đánh giá vào các thời điểm 2 tuần, 1,3,6 và 9 tháng sau khi phẫu thuật. Tiêu chí đánh giá chính là kích cỡ ngực (Breast size – BRM).

BRM = Chu vi vú – Chu vi ngực


Kết quả:

Lượng tế bào thu được bằng hệ thống Celution là 0.342 x 106 tế bào/gam mỡ với tỉ lệ sống là 85.3%. Tất cả bệnh nhân đều có sự cải thiện kích cỡ vú (BRM), kích cỡ ổn định tại thời điểm sau 3 tháng. Sau 9 tháng, BRM tăng trung bình 3.3 cm so với trước khi phẫu thuật. Tỉ lệ hài lòng của bác sĩ lâm sàng là 69% và của bệnh nhân là 75%. Không ghi nhận bất kỳ
phản ứng có hại nghiêm trọng nào.


Case lâm sàng

Case 1:


Case 2:


Case 3:


 

II.      PHẪU THUẬT VÙNG MẶT

1.      Li 2012 [3]

Phương pháp nghiên cứu:

38 phụ nữ tiến hành ghép mỡ tự thân để cải thiện tạo hình vùng mặt vì mục đích thẩm mỹ. Trong đó có 26 người được ghép với mỡ kết hợp SVF và 12 người chỉ được ghép mỡ đơn thuần. Bệnh nhân được đánh giá thông qua mức độ cải thiện về thẩm mỹ và ảnh chụp CT tại thời điểm 6 tháng sau khi phẫu thuật.

Kết quả:

Tất cả bệnh nhân đều cho sự cải thiện về thẩm mỹ nhưng với những mức độ khác nhau. Tỉ lệ sống của mô mỡ cao hơn khi kết hợp với SVF so với khi ghép mỡ đơn thuần (64.8 ± 10.2% so với 46.4 ± 9.3%)


Bệnh nhân ghép mỡ phối hợp SVF cũng cho mức độ cải thiện tốt hơn về mặt lâm sàng


Case lâm sàng:

Case 1: Một phụ nữ 26 tuổi bị lõm vùng thái dương 2 bên được cho ghép mỡ tự thân phối hợp với SVF.

A.    Trước khi phẫu thuật

B.    6 tháng sau khi phẫu thuật


Case 2: Một phụ nữ 21 tuổi bị lõm vùng thái dương và gò má 2 bên được cho ghép mỡ tự thân phối hợp với SVF.

A.    Trước khi phẫu thuật

B.    6 tháng sau khi phẫu thuật


2.      Charles 2015 [4]

Phương pháp nghiên cứu:

6 bệnh nhân độ tuổi từ 45-65 được phẫu thuật nâng mặt bằng cách ghép mỡ tự thân hút từ vùng bụng. Mỡ được làm giàu phân đoạn SVF trước khi chích vào mặt bệnh nhân. 3 tháng sau khi điều trị, mẫu da của bệnh nhân sẽ được tách ra và soi trên kính hiển vi (điện tử và quang học) để đánh giá mức độ cải thiện lão hóa da của phương pháp

Kết quả:

3 tháng sau khi điều trị, có sự thay đổi cấu trúc ở mô da. Hệ thống sợi đàn hồi bị thoái hóa bớt (elastosis), thay vào đó là những cấu trúc sợi oxytalan mới được tạo thành ở vùng trung bì nhú. Da có sự thay đổi đáng kể về cầu trúc ba chiều ở vùng trung bì lưới và tăng sinh cấu trúc nền vi mạch.

Tất cả những kết quả trên chứng minh rằng, có sự trẻ hóa (rejuvenation) về cấu trúc da sau khi điều trị bằng mỡ làm giàu phân đoạn SVF.


Tải về Bản PDF

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(Click vào tài liệu mà bạn quan tâm để tải về)

[1] Yoshimura K et al (2008), “Cell-Assisted Lipotransfer for Cosmetic Breast Augmentation: Supportive Use of Adipose-Derived Stem/Stromal Cells”, Aesth Plast Surg, 32:48–55

[2] Kamakura T et al (2011), “Autologous Cell-Enriched Fat Grafting for Breast Augmentation”, Aesth Plast Surg, 35(6):1022-30

[3] Li et al (2012), “Supplementing Fat Grafts with Adipose Stromal Cells for Cosmetic Facial Contouring”, Dermatol Surg, 39(3 Pt 1):449-56

[4] Charles-de-Sá et al (2015), “Antiaging Treatment of the Facial Skin by Fat Graft and Adipose-Derived Stem Cells”, Plast Reconstr Surg, 135(4):999-1009

_